Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất

Có Bốn Dạng Người Luôn Sống Khổ

03 Tháng Bảy 201914:02(Xem: 5479)
Có Bốn Dạng Người Luôn Sống Khổ

CÓ BỐN DẠNG NGƯỜI LUÔN SỐNG KHỔ
Thích Tánh Tuệ

 

1. Người có khuynh hướng cực đoan

Nhà Phật thường nhắc đến đạo lý sống Trung Đạo. Cái gọi là Trung Đạo chính là không đi theo hướng cực đoan, quá mức. Bởi lẽ bất cứ việc gì khi đi đến cực điểm, cũng sẽ bắt đầu rơi xuống theo hướng ngược lại. Tương tự như vậy, nếu như một người đen đủi đến mức cực điểm, cũng chớ vội cực đoan, nghĩ không thộng, thường thì ''qua cơn bĩ cực đến hồi thới lai'', (qua lúc khó khăn đến hồi thư thái). Và ngược lại, khi thành công gặp vận may cũng đừng quá đắc chí mà hành xử thiếu suy nghĩ thì họa sẽ kéo đến liền.

2. Người tự cao tự đại

Sống ở trên đời, người khiêm tốn thường được yêu mến, ngược lại, tự cao tự đại sẽ bị người khác chán ghét. Điều này thì hầu như ai cũng hiểu rồi nhưng vẫn thường mắc phải. Người ta thường hay rước lấy thị phi là vì nói quá nhiều, thích can dự vào chuyện không đâu. Sống trong nghịch cảnh cần phải ưỡn ngực, ngẩng cao đầu; sống trong điều kiện thuận lợi, an lạc, nên giữ tinh thần thận trọng, đề cao cảnh giác để đề phòng họa hại; lúc thành công nên tự nhắc bản thân hãy khiêm tốn, đừng khoa trương hay huyễn hoặc bản thân.

3. Người quá tham vọng

Một đời người, khi đến trần trụi, khi ra đi cũng trần trụi. Ăn uống một ngày cũng chỉ là ba bữa cơm, ngủ cũng chỉ cần đến một phòng. Vậy thì ôm dục vọng quá lớn để làm gì, trong khi nó chỉ khiến con người ta luôn luôn cảm thấy không thỏa mãn? Dục vọng quá lớn cũng là nguồn cơn của mọi khổ đau trên đời. Con người, muốn bớt phiền não, đầu tiên cần phải học được cách buông. Nhưng hãy hiểu rằng buông chính là buông tham muốn chứ không phải buông bổn phận và trách nhiệm đang là..

4. Người hay xét nét.

 Có những lúc, con người sống quá xét nét sẽ dễ trở nên phiền não bởi những việc tiểu tiết xung quanh; sống phớt lờ một chút, có khi lại cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Bởi vì sao? Bởi vì người hay xét nét thường quá nghiêm túc, bất luận là việc lớn hay nhỏ đều cho là to tát, nghiêm trọng, nghĩ nhiều dẫn đến mệt mỏi, cuộc sống luôn bị những việc vặt vãnh chi phối, chiếm dụng hết thời gian, khó mà cảm thấy vui vẻ, thanh thản..

Trong khi đó, người sống phớt lờ sẽ ít bận tâm đến những việc xung quanh, có lẽ vì thế mà cuộc sống trở nên đơn giản và có phần qua loa đại khái, nhưng cũng nhờ vậy mà họ tìm được hương vị thực sự của đời sống bình an. Làm người, hãy cứ đơn giản; làm việc, hãy cứ thực tế, để tháng ngày trôi qua nhẹ nhàng, giản đơn, thong dong tự tại, vậy là đủ.

 

Lý tưởng mà không tham vọng Hòa hợp nhưng không hòa tan Dịu dàng mà không yếu đuối . Ràng buộc mà vẫn tự do Ước mơ.. nhưng không ảo tưởng. Kính trọng mà không thần tượng

Như Ý chẳng bằng Ý Như..

Như Nhiên- Thich Tánh Tuệ

 

 

TRONG KHOẢNH KHẮC NÀY

 

Trong phút giây này em có hay!
 Vạn vật quanh mình đang chuyển xoay  
Có mầm non hé, hoa cười nụ,
Chiếc lá xa cành theo gió bay.

Trong khoảnh khắc này em biết chăng!  
Có người hạnh phúc, kẻ băn khoăn
 Nơi tê nghèo đói, đời cô quạnh  
Chỗ nớ ... ngày chưa hết nhọc nhằn.

Cũng trong tíc tắc, từng hơi thở..
Vô vàn đi, đến, diệt và sinh  
Mắt ai vừa khép, ai vừa mở
Kẻ reo vui, người khóc một mình.

Trong thoáng giây này em biết không! 
 Buồn, vui nhân thế rất mênh mông..
 Nơi chìm mưa bão, nơi chinh chiến  
Thiện, ác vần xoay mãi một dòng.

- Phút nao tỉnh thức em ngồi lại  
Nhìn ra thế giới, nghĩ về mình.
 Thấy chăng một thứ chi thường tại ?
 Chập chờn mộng, thực kiếp nhân sinh.

- Trong sát na này ta biết đâu
 Có người bừng giấc mộng thiên thâu.  
Từ miền tịch lặng vô biên ấy
 Thầm gửi niềm Thương khắp địa cầu.

 

Như Nhiên - Thích Tánh Tuệ

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 17)
Nền tảng những lời dạy của Đức Phật là phật tính. Và cũng do phật tính mà Đức Phật đã ban cho những lời giảng.
(Xem: 292)
Đức Phật (khoảng năm 450 trước Công nguyên) là người có giáo lý tạo thành nền tảng của truyền thống Phật giáo.
(Xem: 397)
Chỗ ở của người tu thường là nơi thanh vắng, núi rừng. Thời Đức Phật còn tại thế cũng thường ở trong những khu rừng.
(Xem: 355)
Trên con đường tiến hóa của mình, loài người tiến theo hướng càng ngày càng thiện lành hơn.
(Xem: 461)
Đầu đà tăng còn gọi là khổ hạnh tăng. Hán dịch chữ Tăng, không chỉ riêng tăng nhân Phật giáo mà nhằm chỉ vị tăng của các tôn giáo Ấn Độ cổ đại.
(Xem: 625)
Truyền Đăng sinh năm 1554, họ Diệp, hiệu Vô Tận, biệt hiệu Hữu Môn.
(Xem: 659)
Tính nối kết là một đặc trưng của kinh Pháp Hoa. Ở đây chỉ trích ra một ít câu để làm rõ.
(Xem: 675)
Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự tánh.
(Xem: 827)
Lama Zopa Rinpoche giải thích phương pháp thiền về tính không trong cuộc sống hàng ngày.
(Xem: 1110)
Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự tánh.
(Xem: 856)
Trong bài này sẽ nghiên cứu về chương thứ nhất, phẩm Tựa, của kinh Pháp Hoa để nhìn thấy phần nào tính vũ trụ của kinh
(Xem: 1096)
Khi một thiền giả theo đuổi con đường giới, vị ấy nên khởi sự thực hành khổ hạnhđể kiện toàn các đức đặc biệt ít muốn, biết đủ
(Xem: 1199)
Với ngày giác ngộ của Đức Phật và năm mới sắp đến, suy nghĩ của chúng ta được phát khởi từ...
(Xem: 1225)
Hai thời công phu còn gọi là triêu mộ khóa tụng (朝暮课诵) hoặc nhị khóa, tảo vãn khóa, đều áp dụng cho hàng xuất giatại gia mỗi ngày.
(Xem: 1382)
Người trí tạo thiên đường cho chính mình, kẻ ngu tạo địa ngục cho chính mình ngay đây và sau này.
(Xem: 1275)
Chúng ta kinh nghiệm thế giới vật chất bằng sáu giác quan của mình: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
(Xem: 1029)
Ta đã già rồi ư? Sự vô thường của thời gian quả thật không gì chống lại được.
(Xem: 1240)
Kinh Hoa Nghiêm còn gọi kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, là một kinh điển trọng yếu của Đại thừa. Bản kinh mô tả cảnh giới trang nghiêm huyền diệu
(Xem: 1174)
Từ bây giờ, là người mới xuất gia, nhiệm vụ của các con là sửa đổi và phát triển bản thân.
(Xem: 1399)
Việt Namquốc gia ở vùng Đông Nam Á cho nên chúng ta may mắn được hấp thụhai trường phái Phật giáo lớn nhất của thế giới,
(Xem: 1282)
Ngày xưa chúng đệ tử của Đức Phật có nhiều hạng người khác nhau. Tùy theo căn cơ của mỗi người, Đức Phật áp dụng phương pháp giáo hóa khác nhau.
(Xem: 1551)
Phật giáo có hai hệ là Theravada và Phát-Triển. Hệ Theravada quan niệm quả vị cao nhất mà hành giảthể đạt được là quả vị A-La-Hán.
(Xem: 1257)
Với ngày giác ngộ của Đức Phật và năm mới sắp đến, suy nghĩ của chúng ta được phát khởi từ
(Xem: 1288)
Chủng tử là hạt mầm của đời sống, là nguồn năng lượng đơn vị cấu thành nghiệp lực, là yếu tốsâu kín và căn bản quyết định sự hình thành cái ‘Ta’ (Ngã)
(Xem: 1454)
Đế Nhàn, gọi đầy đủ là Cổ Hư Đế Nhàn, là tổ sư đời thứ 43 Thiên Thai tông, một bậc cao Tăng cận đại, phạm hạnhcao khiết, giỏi giảng kinh thuyết pháp, độ chúng rất đông.
(Xem: 1146)
Giải thoát thì không có trước có sau, không có thừa! Và không có để lại bất kỳ cái gì.
(Xem: 1337)
Bản kinh chúng ta đang có là bản kinh 262 trong Tạp A Hàm Hán Tạng. Trong Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya) của tạng Pāli có một kinh tương đương, đó là kinh Chiên Đà.
(Xem: 1259)
Thực tại được kinh Hoa Nghiêm gọi là pháp thân Phật, được diễn tả nhiều trong các bài kệ của phẩm đầu tiên Thế Chủ Diệu Nghiêm.
(Xem: 1439)
Gần 26 thế kỷ về trước, sau khi kinh qua nhiều pháp môn tu tập nhưng không thành công, Đức Phật đã quyết định thử nghiệm chân lý bằng cách tự thanh tịnh lấy tâm mình.
(Xem: 1081)
Tín là niềm tin. Niềm tin vào Tam Bảotin tưởng vào Phật, Pháp, Tăng.
(Xem: 1477)
Đức Phật xuất hiện trên thế gian đem lại an vui cho tất cả chúng sanh. Đạo Phật là đạo của giác ngộgiải thoát.
(Xem: 1077)
Pháp Lục hòa là pháp được đức Đạo sư nói ra để dạy cho các đệ tử xuất gia của Ngài lấy đó làm nền tảng căn bản cho nếp sống cộng đồng Tăng đoàn
(Xem: 1112)
Đây là bốn phạm trù tâm thức rộng lớn cao thượng không lường được phát sinh từ trong thiền định khi hành giả tu tập trong tự lợi và, lợi tha
(Xem: 1003)
Nhân quả là một định luật tất yếu trong sự hình thành nhân sinh quan và vũ trụ quan qua liên hệ duyên khởi của cuộc sống con người
(Xem: 1527)
Sự thành tựu tối thượng mà những vị đang đi trên con đường độc nhất tiến tới giác ngộ, là khả năng thành tựu tất cả từ hư vô.
(Xem: 1352)
Phật pháp như thuốc hay, nhưng tùy theo căn bịnh.
(Xem: 1583)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến. Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này.
(Xem: 1617)
Phẩm này tiếng Phạn Sadāparibhūta. Sadā là thường, mọi lúc, mọi thời gian; Paribhūta là không khinh thường.
(Xem: 1789)
Ngày xưa, ở thành Xá-vệ có một vị trưởng giả giàu có, tiền tài châu báu vô lượng. Ông thường thứ tự thỉnh các vị sa-môn đến nhà cúng dường.
(Xem: 2044)
Đối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa.
(Xem: 1793)
Truyền thống Đại thừa Á Đông thường dịch nghĩa prajñāpāramitā là Huệ đáo bỉ ngạn (zh. 慧到彼岸), Trí độ(zh. 智度), Trí huệ độ người sang bờ bên kia.
(Xem: 1696)
Tin nhân quả làm chúng ta an tâm. Sự hợp lý, trật tự, ý nghĩa của một cuộc đời là do nhận thức được và sống theo nhân quả.
(Xem: 1349)
Không có một chỗ nào để trụ trong giáo pháp Trung đạo. Tâm không có chỗ trụ thì không tự giải quyết được gì vì không có nơi để tập trung, nắm níu.
(Xem: 1360)
Bài giảng hôm nay nói về luật Nghiệp Báo. Nhiều người không sinh ra trong gia đình Phật Giáo, nhưng đã tìm học về Phật Giáo nhờ nghe luật Nghiệp Báo;
(Xem: 1223)
Kamma, Nghiệp, theo đúng nghĩa của danh từ, là hành động, hay việc làm. Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là Tác ý (cetana).
(Xem: 1215)
Đối với quỷ sứ, cung trời là địa ngục còn địa ngụcthiên đàng. Đối với thiên thần, cung trời là thiên đàng còn địa ngụcđịa ngục.
(Xem: 2160)
Duyên Khởi hay còn gọi là Định luật Nhân Quả là một nội dung quan trọng bậc nhất trong giáo phápĐức Phật thuyết giảng.
(Xem: 1773)
Là người sống ở thế gian, có ai tránh khỏi một đôi lần gặp bất trắc, tai ương lớn hay nhỏ.
(Xem: 1695)
Hễ nói đến Giáo pháp của đức Phật, chúng takhông thể không nói đến pháp Duyên khởi hay nguyên lý Duyên khởi (Pratìtyasamutpàsa).
(Xem: 1714)
Trong giáo lý của Đức Phật về duyên khởi(Paticca-samuppāda), vòng luân hồi của sinh tử, gọi là samsara, được mô tả như một quá trình
(Xem: 1663)
Bài giảng hôm nay nói về luật Nghiệp Báo. Nhiều người không sinh ra trong gia đình Phật Giáo, nhưng đã tìm học về Phật Giáo nhờ nghe luật Nghiệp Báo;
(Xem: 1616)
Ở đời có người quan niệm rằng, mình sống làm người, sau khi chết mình cũng sẽ tái sinh làm người ở một cõi nào đó, thậm chí có người còn nghĩ mình về sống dưới suối vàng.
(Xem: 1995)
Từ vô ngã bùng nổ thành ngã, và rồi từ ngã bùng nổ giác ngộ trở về lại vô ngã. Cái “big bang Phật Giáo” này xảy ra trong từng sátna.
(Xem: 2305)
Trong nhận thức của quốc vương Koravya, cũng như nhận thức của nhiều người, một người từ bỏ cuộc sống...
(Xem: 2064)
Trong bài này sẽ nói về năm pháp: danh, tướng, phân biệt, chánh trí, như như, từ Kinh Nhập Lăng Già (Đại chánh tân tu Đại tạng kinh,
(Xem: 1809)
Hổm nay chúng ta đã tìm hiểu bài Đại kinh Rừng Sừng Bò, sáu vị thánh nhân trình bày hình ảnh lý tưởng của vị tỳ kheo trí tuệđức hạnh,
(Xem: 2037)
Các học giả tranh luận liệu những lời dạy của Đức Phật được lưu giữ trong kinh điển Pāli có thể được coi là triết học hay không,
(Xem: 2556)
Ở đời không ai mong cầu giải thoát khi đang ở trong lầu son hạnh phúc. Người ta chỉ muốn được giải thoát khi bị nhốt trong hoàn cảnh bi đát nào đó.
(Xem: 2225)
Chúng sinh tuy bình đẳng nhưng căn tính bất đồng. Bình đẳng trên chân lý không phải là mọi người ngang hàng bằng nhau.
Quảng Cáo Bảo Trợ
free website cloud based tv menu online azimenu
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant